Móng dành cho nhà dân dụng

         KTGN-Kiến trúc Gia Nguyễn là công ty chuyên thiết kế và thi công nhà ở dân dụng.Hôm nay, kiến xin giới thiệu đến bạn đọc một chủ đề được rất nhiều chủ đầu tư cũng như nhà thầu quan tâm cả trong công tác thiết kế và xây dựng hiện nay- đó là móng nhà.Tùy vào đặc điểm công trình hay đặc điểm địa hình để chúng ta đưa ra giải pháp thi công tốt nhất, lâu bên nhất, an toàn và chi phí thấp nhất cho gia chủ. Công tác khảo sát địa chất là rất quan trọng, với những công trình nhà thấp tầng thì được thiết kế thi công dựa trên kinh nghiệm để làm,còn đối với với công trình lớn thì công tác khảo sát địa chất là không thể thiếu.Như vậy móng nhà là gì và có những loại móng nào và đặc điểm chúng ra sao?
         Móng nhà chính là phần kết cấu bên dưới nhà có thể bằng gạch, đá hộc hay bê tông…. để chịu tải toàn bộ tải trọng của công trình xuống dưới lớp nền đất. Móng đảm bảo được chất lượng khi có thể chịu được tải trọng của toàn bộ căn nhà hoặc có thể lún đều, lún đều trong khoảng sai số cho phép không gây nên các hiện tượng lún, nứt tường hoặc mái. Móng nhà chính là một yếu tố quyết định sự bên vững của công trình. Vậy thì trong công trình xây dựng thì bao gồm những phần móng gì và khi nào thì dùng móng nào cho phù hợp.

          Một số móng nhà thường dùng cho nhà dân dụng:

I.MÓNG BĂNG CÓ 2 LOẠI:

                * Móng băng 1 phương

                 * Móng băng 2 phương

II. MÓNG ĐƠN CÓ 4 LOẠI:

                  * Móng độc lập

                  * Móng cột

                  * Móng trụ

                   * Đế cột 

  III. MÓNG BÈ 

                 * Móng bè phẳng

                 * Móng bè nấm

                 * Móng bè có gân

                 * Móng bè dạng hộp

IV,MÓNG CỌC

                  * Móng cọc đài cao

                 * Móng cọc đài thấp

 1.Móng băng là một dải móng được thiết kế chịu lực và nối các điểm cọc của móng. Tùy theo điều kiện và đặc điểm của công trình chúng ta sẽ có 2 loại móng băng

 - Móng băng 1 phương: Là loại móng băng và được thiết kế theo phương dọc hoặc phương ngang. Móng băng 1 phương thường sẽ phải to hơn là móng băng 2 phương do cả 1 phương đó chịu tải toàn bộ tải trọng của căn nhà

 - Móng băng 2 phương: là móng băng được thiết kế theo cả 2 phương ngang và dọc chịu tải cho cả công trình, đối với loại móng băng này thường được dùng nhiều hơn.

Móng băng thường được dùng nhiều cho nhà phố và với các loại công trình nhà từ 3 tầng trở lên sẽ sử dụng móng băng, đối với nhà 1, 2 tầng sẽ sử dụng móng đơn.

  2. Móng đơn là loại móng đỡ bằng trụ cột, đế cột. Móng đơn thường nằm riêng lẻ nhau và có hình dạng là hình vuông, hình chữ nhật… Móng đơn được sử dụng nhiều trong các công trình nhỏ lẻ và có chi phí thi công thấp nhất trong các loại móng. Móng đơn thường được gọi là móng trụ hay móng cốc theo cách gọi của dân gian với cách thi công nhanh nên chi phí thi công các loại móng này sẽ giảm được khá nhiều cả vật tư lẫn nhân công.

 3. Móng bè là một bản lớn dưới cột rộng theo 2 phương,  lợi ích của móng bè là thi công trên mặt đất, đào không sâu và trên một mặt bằng lớn tận dụng lớp đất tốt bên trên. Bề dày của móng bè từ 0.5 đến 2m với 2 phương chịu lực, cốt thép được bố trí 2 lớp, lớp trên được giữ bởi giá đỡ.

4. Móng cọc được dùng phổ biến nhất trong trường hợp tải trọng công trình khá lớn hay trong điều kiện địa chất yếu, giải pháp móng cọc luôn được xem là giải pháp thuận lợi nhất do đặc tính phong phú về cấu tạo vật liệu học của cọc.

a. Phân loại móng cọc:

    -Móng cọc đài thấp: là móng cọc trong đó các cọc hoàn toàn chịu nén và không hịu tốn, với tải trọng do cột truyền xuống thấp bao gồm lực đứng N, monen M và lực ngang H; trong đó lực ngang H được xem là cân bằng cới áp lực bị động của đất theo độ sâu đặt móng tối thiểu.

    -Móng cọc đài cao: khi chiều sâu chôn móng nhỏ hơn hmin móng cọc được tính theo dạng móng cọc đài cao, theo đó các móng cọc sẽ chịu uốn nén và như vậy ta tính toán theo móng cọc đài cao để xác định nội lực trong cọc.

b. Cấu tao móng cọc.

1.ĐẶC ĐIỂM

Tùy theo cấu tạo của vật liệu, cọc được chia thành các loại như sau:

– Cọc gỗ:

             -Dùng trong công trình nhỏ tạm thời.

             -Vận chuyển nhẹ nhàng.

             -Sức chịu tải nhỏ, dêc bị mục nên chỉ được sử dụng trong điều kiện thấp hơn mực nước ngầm 50cm.

– Cọc bê tông cốt thép:

– Được sử dụng rộng rãi với kích thước tùy ý, tuy nhiên không nên dài quá 24m, được thực hiện thành đoạn và nói với nhau theo nhiều cách như hình bằng manchon hay giáp đầu.

– Tải trọng tối đa được khuyến cáo không nên quá 1000kN, tốt nhất là 800kN.

-Kích thước ché tạo là 20×20; 25×25; 30×30…, nếu sử dụng tải lớn hơn tốt nhất là dùng cọc khoan nối.

-Cốt thép bố trí trong cọc theo quy định không được nhỏ hơn 0,3-0,4%

– Cọc thép:

– Do tính năng kháng uốn tốt, cọc théo được dùng cho các công trình vĩnh cửu, công trình chịu tải trọng đứng lớn hay công trình chịu tải trọng ngang như bến cảng, phổ biến nhất là cọc dạng bản.

– Tải trọng tối đa 1000kN

– Dài không hạn định, dễ nối, có thể xuyên qua các chướng ngại vật, hay sét cứng nhất, như xuyên qua lớp sạn laterit.

– Phải có biện pháp chống gỉ.

– Dễ thi công, với búa loại rung hay ép.

– Sức chịu tải theo vật liệu.

– Cọc khoan nhổi:

Bằng thiết bị khoan với đường kính từ 60-120cm tạo thành hố khoan sâu với sự hỗ trợ của mùn khoan(bentonit) tạo cho thành hố khoan thẳng đứng không bị sụp, sau đó đổ bê tông, cốt thép được đặt

– Cọc hỗn hợp:

– Loại cọc này ít được phổ biến, sử dụng chủ yếu cho công trình tạm thời. Cọc hỗn hợp bao gồm 2 phần: phần dưới là gỗ đặt dưới mực nước ổn định 0,5m, phần trên là bê tông.

c. Cấu tạo đài cọc:

– Đài cọc được cấu tạo để liên kết các cọc còn lại với nhau, các cọc thường được chôn trong đài móng.

– Khoảng cách e giữa hai cọc là 3D, cọc chống chịu mũi giảm xướng còn 2D, cọc xiên là 1,5D

– Khoảng cách từ mép cọc đến mép đài lớn hơn 1/2D

– Độ sâu chôn cọc vào trong đài phải lớn hơn 2D và không lớn hơn 120cm với đầu cọc nguyên.

– Với đầu cọc được đập bể, chiều dài của cốt thép cọc chờ phải dài từ 30d-40d(d lad đường kính cọc) và phần ngàm cọc trong đài từ 10-15cm.

d. Bố trí cọc:

Số lượng cọc được chọn trên cơ sở:

                         n=(1,2 ->1,4)x tải trọng thẳng đứng/khả năng sử dụng 1 cọc. Tùy theo giá trị monen gây nên lệch tâm để chọn số lượng cọc tăng thêm theo cách bố trí cọc tương ứng.

e. Hiệu ứng nhóm:

Quy phạm khuyến cáo phải chú ý đến hiệu ứng của nhóm cọc, kho cọ làm việc trong một nhóm do tác dụng ảnh hưởng lẫn nhau làm cho khả năng chịu tải của cọc giảm, hệ số hiệu ứng này tùy thuộc vào khoảng cách e của cọc và các bố trí cọc trong nhóm (n hàng, mỗi hàng m cọc, tổng số cọc =m.n)

2.KHẢ NĂNG CHỊU TẢI MÓNG CỌC ĐƠN.

  Khả năng chịu tải cọc đơn xác định hai yếu tố là vậy liệu và đất nền.

a. Do vật liệu cọc:

Khả năng chịu tải theo vật liệu được xác định từ các công thức trên(trong điều kiện đóng hay ép) phải được thiết kế lớn hơn sức mang cực hạn của nền để có thể đóng hoắc ép được đến chiều sâu thiết kế mà không làm cọc bị phá hoại, tuy nhiên cũng không nên quá dư để gây nên lãng phí.

b.Do đất nền:

Để tính khả năng chịu tải của cọc dựa theo đất nền, chiều sâu địa chất công trình phải được xác định đủ nhằm đảm bảo yêu cầu thiết kế.

               

 

Bài viết này được đăng tải lúc .

Bình luận

Để lại bình luận